Hiển thị các bài đăng có nhãn Dalat. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dalat. Hiển thị tất cả bài đăng

25 tháng 11, 2013

KÝ ỨC DALAT - DƯ ÂM & DƯ HƯƠNG

KÝ ỨC DALAT - DƯ ÂM & DƯ HƯƠNG

Đến là nghi tâm, đi là diệu tưởng

Khoảng những năm đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, mẹ tôi, nguyên là công chức của chính quyền Sài Gòn cũ chuyển về Dalat làm việc, nơi đến của bà ở thành phố cao nguyên này là Chi Lăng, Dalat …

Tôi theo mẹ về Dalat từ khi ấy.



Tôi còn nhớ về thanh âm làm thức giấc hai mẹ con chúng tôi trong buổi sáng sớm đầu tiên ở Dalat, đó là tiếng mưa rì rào, tiếng mưa lúc khoan lúc nhặt, lúc như kể lể hờn giận, lúc như lặng thầm xa vắng  …  Sợ cơn mưa, ngại cái lạnh đất cao nguyên, mẹ tôi người vừa rời nơi sống ở vùng đồng bằng ấm áp đã không dám mở tung cánh cửa sổ như thường nhật …

Khi tiếng mưa có vẻ đã ngớt, mẹ tôi mở cửa sổ trông ra ngoài thì hóa ra lại không thấy một giọt mưa nào cả, ngoài những giọt sương mai long lanh còn vương vấn trên hoa lá, thì lối đi trên vườn vẫn còn nguyên khô ráo, nhưng tiếng mưa lại vẫn từ đâu đó vọng về chưa dứt …

Sau đó, nhìn những ngọn thông chao nghiêng, ngả ngớn vào nhau theo từng cơn gió thì mẹ tôi mới chợt đoán hiểu về nguồn gốc của âm thanh nghe như tiếng mưa này và rồi theo người Dalat, chúng tôi gọi nó là : “tiếng thông reo” …

Hình như tiếng thông reo nghe rào rạt nhất vào giấc sáng sớm thì phải, hay có lẽ là do đây là khoảng khắc tĩnh lặng nhất trong ngày, nên tiếng thông reo nghe càng rõ nét hơn ? Rồi thỉnh thoảng đâu đó trong ngày, mọi người lại nghe tiếng thông reo như nhắc nhớ về sự hiện diện của niềm hoan lạc giữa đất trời Dalat …

Thế nên, tiếng thông reo ở Dalat có lẽ đã trở thành một tài sản phi vật thể mà mỗi người dân Dalat xa xứ phải nhớ nhung, phải luyến tiếc … Là một trải nghiệm lạ lẫm cho du khách đến Dalat, để khi họ về nhà họ có món quà là câu chuyện kỳ thú kể cho người thân.

Không chỉ âm thanh của thông, mà chính mùi hương tự nhiên tỏa ra từ những vệt nhựa thông óng ánh vàng tươm trên thân cây thông mới là mùi hương vương vấn suốt một phần tuổi ấu thơ của tôi ở Dalat.

Ngày ấy, tôi và vài đứa bạn cùng trang lứa tha thẩn dùng gậy chọc lấy nhựa thông quệt vào đầu gậy làm đuốc … trò chơi tinh nghịch của trẻ con khi ấy may đã không gây hậu quả xấu gì !? ngoại trừ hậu quả làm tôi vương vấn mùi hương ấy mỗi khi nhớ về Dalat.

Thế nên, tuy Dalat được mệnh danh là thành phố hoa, thành phố ngàn hoa, nhưng tôi lại không nhớ lắm về sắc hoa hay hương hoa, mà chỉ nhớ mùi hương nhựa thông của tuổi ấu thơ mà thôi …

Sau này, khi có dịp trở lại Dalat thì hầu như tôi không còn nghe dư âm của tiếng thông reo nữa, có lẽ vì thông phải nhường đất sống của mình cho những cư dân Dalat mới … nhưng rất may, dư hương của hương nhựa thông thì thỉnh thoảng vẫn còn phảng phất ở những vùng ngoại ô Dalat  …

Thật tiếc khi một phần Dalat trong lòng tôi đã mất …

Manh Dang


20 tháng 11, 2013

KÝ ỨC DALAT - PHẦN 2 - ÁM TƯỢNG ĐÊM ...


KÝ ỨC DALAT - 
PHẦN 2 - ÁM TƯỢNG ĐÊM …

(tiếp theo)

Đà Lạt còn chút sương mờ
Vén sương tôi đón tuổi thơ tôi về

Nhiều năm về trước, ở Sài Gòn, người ta cho đổi những bóng đèn đường từ ánh sáng sắc trắng quen thuộc mà tôi đã thấy từ trước những năm 1975 sang đèn có ánh sáng sắc vàng cam … Khi ấy, trong suốt thời gian đầu, thấy sắc vàng cam của các ngọn đèn đường, tôi thấy lòng mình u uất,  nặng nề lạ lùng, thấy lạ lắm mà cũng như rất quen thuộc … lạ vì quả thật là lần đầu tiên trong đời tôi thấy các ngọn đèn đường có sắc vàng cam, mà thấy cũng quen thuộc lắm … nhưng kỳ lạ là tôi không rõ, không thể nhớ nổi là quen thuộc như thế nào ? chỉ mơ hồ cảm nhận rằng dường như nó gắn chặt với một ký ức rất sâu sắc nào đó ? hay một giấc mơ đau buồn cùng cực mà tôi đã từng có ở tuổi ấu thơ chăng ?

Đến một ngày, tôi có dịp trở lại Dalat, vào buổi tối và khi nơi này cũng đã bắt đầu sử dụng những bóng đèn đường chiếu ánh sáng sắc vàng cam, ánh đèn hắt bóng xuống vỉa hè vắng, hắt bóng lên con dốc quanh co,  như bất lực muốn xuyên thấu màn đêm mù sương lạnh, thì ám tượng ký ức trong tôi tưởng đã chôn chặt chợt thức giấc, làm vỡ òa cảm xúc kinh hoàng của tuổi ấu thơ khi tất cả những yếu tố để nhắc nhớ về ký ức ấy đang hội tụ, bất chợt, tôi có câu trả lời cho tâm trạng u uất của mình trước ánh sáng sắc vàng cam của ngọn đèn đường trong đêm …




Ám tượng ký ức tuổi thơ của tôi, ám tượng đêm …

Ám tượng từ buổi tối muộn ngày 30/03/1975, mẹ con chúng tôi đã lên gường chuẩn bị cho giấc ngủ mộng mị … thì đột nhiên : “Ùm, oàng, oàng …” rồi “oàng …” có nhiều tiếng nổ to vang trời, chấn động, rung rinh cả nền đất, các tấm kính ốp cửa sổ run bần bật từng cơn, điện đóm chợt tắt phụt … mẹ tôi giật mình thảng thốt vột đẩy tôi trốn xuống dưới gầm gường … cùng với tiếng nổ liên tục thì bầu trời đêm đen kịt bổng đỏ rực rồi chuyển sang sắc vàng cam, sáng lên từng cơn một, chiếu vệt sáng lúc đỏ lúc vàng cam lừ đừ qua khe cửa, từ trái qua rồi từ phải qua liên tục không dứt … mẹ con chúng tôi run lẩy bẩy dưới nền nhà sắc lạnh theo từng tiếng nổ rền …

Độ vài phút thì có tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng nói lao xao, ngắt quảng, rồi tiếng đập cửa thình thịch la thất thanh : “Chị Thư ơi (tên mẹ tôi) chạy đi, Việt cộng vào bây giờ”, mẹ con chúng tôi rụng rời tay chân … Ôi trời ! kẻ làm tôi khiếp sợ hơn cả ông kẹ sắp xuất hiện chăng ? Mẹ tôi, bà chỉ kịp quơ vội thêm cái áo măng-tô choàng thêm cho tôi rồi dắt díu tay tôi chạy vội ra ngoài …

Ra đến cửa khu bệnh xá, dưới ánh sáng rực sắc vàng cam như lửa cháy in trên bầu trời đêm, chúng tôi chỉ còn thoáng thấy những bóng người cuối cùng của những gia đình công chức đang khuất dần sau khung cổng hướng ra đường cái … mẹ con chúng tôi lập cập, run rẩy chạy theo …

Chạy ra đến cổng, luống cuống vấp phải những viên đá xanh mấp mô lát lề đường mà mẹ tôi trượt ngã sóng soài … tôi, sức trẻ con bảy tuổi cố gắng kéo mẹ đứng dậy, miệng trấn an : “Mẹ cứ yên chí, có con đây, có con đây …” … Sau này nhắc lại, tôi vẫn không hết mắc cỡ khi mẹ tôi cười mà rằng : “Không biết ông con khi ấy làm được gì mà cứ anh hùng cái miệng “Có con đây” … nhưng mắt bà ngấn lệ … có lẽ bản năng chở che, đùm bọc luôn luôn tiềm ẩn trong tâm thức mỗi người đàn ông, cho dù khi họ vẫn còn là đứa trẻ con chăng ?

Lúc này, chúng tôi thấy khá nhiều người đang cùng hối hả chạy hướng về phía trung tâm thành phố … Chúng tôi cứ thế chạy theo, như những bước chân vô định mà không rõ đích đến cuối cùng là đâu ?  Trên bầu trời đêm, vẫn sáng hực sắc vàng cam theo từng tiếng nổ của đạn pháo nổ liên hồi  … Chúng tôi nghe những người cùng chạy nói chuyện với nhau qua tiếng thở hổn hển, giọng đứt quãng : “Nghe đâu … Trường võ bị sĩ quan đã di tản từ lúc trưa rồi  !?!” … Câu chuyện này như một lời đồn không rõ hư thực, nhưng gây hoang mang cùng cực, nó lan truyền nhanh chóng như cơn đại dịch, những người dắt díu nhau chạy trong đêm nay có lẽ là những người sau cùng ở Dalat biết về câu chuyện này !?

Cư dân Dalat có lẽ không bao giờ muốn nhớ lại ngày này, ngày mà Dalat trải qua những thời khắc chưa từng có kể từ ngày Bác sỹ Yersin khám phá ra vùng đất thần tiên này, bởi lẽ, trong hầu hết thời gian tồn tại của mình, thì Dalat như một vùng đất hứa mà du khách luôn luôn muốn tìm đến, để ân hưởng lạc thú thiên nhiên, để chiêm nghiệm lòng mình … thì bây giờ, không có du khách ở đây đã đành, mà cả những cư dân Dalat đang tìm mọi cách để trốn chạy, để thoát thân, để di tản khỏi Dalat càng nhanh, càng xa thì càng tốt …

Mẹ con chúng tôi là một trong số họ … chúng tôi chạy một đoạn đến giao lộ có ngôi trường Phan Chu Trinh tọa lạc thì theo dòng người rẽ trái rồi lại rẽ trái một lần nữa vào đường Hùng Vương, ngay gần đấy, một đoàn xe be (tức loại xe reo chở gỗ) đang đậu sẵn ở đấy, họ dường như đang chuẩn bị để khởi hành, mẹ tôi cùng nhiều người dừng lại xin đi nhờ, may mắn, một tài xế chấp nhận cho mẹ con chúng tôi lên xe, có lẽ họ động lòng thương tình hoàn cảnh  của phụ nữ với con nhỏ chăng ?

Yên vị trên khoang tải của xe tầm một lát, xe nổ máy, mọi người thở phào nhẹ nhõm, nhưng thay vì khởi hành thì cả đoàn xe đều chạy vào bãi đậu ngay bên kia đường, họ tắt máy xe …  Mọi người đang ngồi trên xe đều ngơ ngác đến thảng thốt, họ đinh ninh trong hoàn cảnh “dầu sôi, lửa bỏng” như thế này thì rời Dalat sớm lúc nào hay lúc ấy … thế nhưng, cùng với những hành khách quá giang xe, thì mẹ con chúng tôi không có nhiều sự lựa chọn … ai đó báo là đoàn xe sẽ khởi hành vào sáng hôm sau !

Đêm ấy, chúng tôi không ngủ trên xe mà chập chờn giấc ngủ mộng mị dưới gầm chiếc xe be … lúc ấy và tại đó có lẽ là nơi an toàn nhất cho chúng tôi trong cảnh trời đêm với sắc vàng cam vẫn cứ hực lên như sài giật từng cơn theo tiếng nổ của đạn, của pháo vang rền, rung chuyển nền đất, liên tục hết cơn này đến cơn khác không dứt  …

Sắc vàng cam trong đêm cuối tháng ba năm ấy đã len lỏi rồi ngự trị trong tâm tư của tôi đến mức trở thành ám tượng ký ức tuổi thơ mà tôi không hề hay biết …

Hôm sau, chúng tôi rời Dalat nơi mà mãi cho đến khi viết những dòng chữ này thì tôi vẫn luôn luôn muốn trở lại … thực tế, tôi đã trở lại nhiều lần, nhưng sau mỗi lần trở lại, trong tôi vẫn có nguyên cảm giác như chưa bao giờ được trở lại đó …

Sáng tinh sương hôm sau, sáng đầu tiên của chuỗi hành trình mười hai ngày di tản sau đó, tuổi thơ của tôi bắt đều biết đến những địa danh lạ lẫm mà một số tôi còn nhớ đến ngày hôm nay : Rừng Lá, Sông Phan, Bình Tuy … để trở về đích đến cuối cùng là Sài Gòn ! Và trong chuyến hành trình ấy, tôi đã phải chứng kiến những hình ảnh mà lẽ ra tuổi thơ không nên thấy, và cũng không có bậc làm cha làm mẹ nào mong muốn con mình phải thấy !

Nhưng sinh ra trong một quốc gia phải chịu đựng thời gian dài chiến tranh, vận con dân khó mà tách rời với vận quốc gia, thì sự thiệt thòi của nhiều thế hệ tuổi thơ từ trước tôi cho đến sau tôi là điều khó tránh khỏi …

Nhưng ngẫm lại, mẹ con chúng tôi đã là những người rất may mắn, vì sau cùng chúng tôi vẫn về đến Sài Gòn, gia đình được đoàn tụ để sống những ngày mới, dưới chế độ mới được thiết lập sau khi di tản ít ngày, bởi lẽ, trong cuộc di tản khổng lồ của người dân Miền Nam trong thời điểm đó, thì nhiều đồng bào của chúng ta đã không giữ được mạng sống cho chính mình, cho người thân, gia đình ly tán, loạn lạc …

Và rồi, hàng triệu triệu người dân Miền Nam bắt đầu bước vào khúc quanh lớn chưa từng có trong cuộc đời mình, đương nhiên, theo vận nước …

(Còn tiếp ...)

KÝ ỨC DALAT - PHẦN 1 - THÁNG BA BUỒN



KÝ ỨC DALAT
PHẦN 1 -THÁNG BA BUỒN

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (1)

Ấp Chi Lăng, nơi mẹ tôi nhận nhiệm sở mới, họ cấp cho mẹ tôi một căn hộ gồm hai phòng nhỏ, liền kề có một phòng khám y tế, đó là khu bệnh xá nơi mẹ tôi làm việc.

Ngay trước khu bệnh xá có trồng sẵn mấy luống hoa, nhưng ngày ấy còn bé, tôi nào đã biết thưởng thức hoa, ngược lại, tôi lại rất sợ và bực mình với các luống hoa này vì cứ phải đi vòng để tránh nó, thực chất là để tránh những sâu màu xanh mềm nhũn, lông lá tua tủa hay những con cuốn chiếu hôi hám, thỉnh thoảng bò sộc vào tận nơi ở …

Khu bệnh xá tựa như một ốc đảo hoàn toàn nằm cách biệt với những dãy nhà khác trong công sở …

Gần nhất với khu bệnh xá là dãy nhà làm việc thì cũng đã cách xa tầm 50m, nhưng từ nơi ở của mẹ con chúng tôi nhìn qua những cây thông già cũng chỉ thấy thấp thoáng tường mặt sau kéo dài của dãy nhà này, tường vốn được ốp đá đã lên rêu xanh từ thuở nào, trông cũ kỹ như bức tường thành cổ vậy …

Còn lại thì đìu hiu vắng vẻ, lạnh lẽo đến nao lòng, chỉ thấy cây xanh, hoa lá trên nền đất đỏ mấp mô …

Ở mặt sau căn hộ của chúng tôi, ngay cạnh gường ngủ có một ô cửa sổ lớn, đây là nơi ưa thích nhất của tôi trong căn hộ, vào những lúc không có sương mù thì tôi có thể phóng tầm mắt vượt qua những mái nhà và rặng cây thấp nhìn suốt ra tận con đường cái … tôi mường tượng như có thể thấy lơ thơ bóng người đi lại, vài chiếc xe đò nhỏ thong thả đưa khách từ Chợ Chi Lăng ra Khu Hòa Bình …

Trong cả khu công sở rộng lớn, tôi chỉ có được một hai đứa trẻ cùng trang lứa là con của đồng nghiệp mẹ tôi để làm bạn … Nhưng tôi nhớ, trong phần lớn thời gian, tôi hầu như tự bày trò chơi cho chính mình chơi là chính …

Cũng may rằng chỉ sau ít ngày đến Dalat, thì tôi đã đi học lớp đầu tiên của cấp tiểu học tại ngôi trường tọa lạc trên một đỉnh đồi, ngôi trường có kiến trúc tuyệt đẹp … mà đến thời gian gần đây tôi mới cảm nhận gần hết ý nghĩa, tầm vóc của nó … Trường Hùng Vương.


Trung Tâm Giáo Dục Hùng Vương

Nguyên thủy, ngôi trường do người Pháp xây dựng, sau vài lần đổi tên, đến thời điểm trước năm 1975 – thời điểm tôi theo học thì ngôi trường đã được mang tên Việt là Trung Tâm Giáo Dục Hùng Vương …  

Tôi nhớ, ngôi trường có một dãy hành lang dài, mái che được mang hình ảnh như từng cơn sóng biển nhấp nhô … tại hành lang này, tôi đã có lần rút chiếc thắt lưng của mình ra quay tít để chống lại mấy anh chàng bạn học lớp trên đang lăm le ăn hiếp mình … may mà hành động “yêng hùng” đó không bị phát hiện, ngoài những “đối thủ” của tôi đang tròn xoe mắt ngạc nhiên về sự “chống đối” của nạn nhân …

Lần khác, trong giờ ra chơi, tôi cùng đứa bạn học thơ thẩn đi về phía một một bờ đất cao, đến nơi, chúng tôi rất thích thú khi phát hiện nơi mình đang đứng như là đỉnh đồi, nhìn xuống phía chân đồi có con đường nhỏ uốn lượn theo bờ hồ Xuân Hương, khung cảnh thật ngoạn mục, chúng tôi đã ngồi ở đấy để đua nhau ném quả thông xuống phía dưới xem của ai ném được xa nhất … cho đến khi nghe tiếng chuông gọi vào học. Đó đã từng là một sự kiện mang tính “phát hiện” đầy kỳ thú đối với lứa tuổi chúng tôi khi đó.

Nhưng thời gian tôi được học ở ngôi trường này không lâu …

Một ngày tháng 03/1975 (tôi không nhớ rõ ngày nào), vào buổi chiều, khi lũ học trò chúng tôi đang nghiêng đầu, nghểnh cổ nghe giảng dang dở bài học của lớp hai, thì bổng cả trường xôn xao, nhốn nháo … thầy cô lớp này, lớp kia chạy vội ra hành lang hốt hoảng thông tin cho nhau điều gì đó về “Việt cộng” … lớp học đột ngột bị ngưng ngang, cô thầy, học trò í ới gọi nhau rồi đổ xô chạy vội vàng xuống sân … tôi cũng cuốn cặp chạy cùng mọi người ra cổng rồi chui tọt vào chiếc xe quen thuộc mà hàng ngày đưa đón chúng tôi đến trường, lúc này xe đang đậu trước cổng … nhưng phải đợi chờ rất lâu thì chú tài xế mới hộc tốc chạy bộ đến đưa chúng tôi về nhà … trên xe, lũ học trò chúng tôi cứ ngơ ngác, im thin thít vì sợ, nhớn nhác nhìn nhau, không còn dám đùa giỡn như mọi khi … trên đường xe cộ cũng dường như hối hả đi lại khác nhịp sống thong thả hàng ngày.

Sau ngày hôm ấy tôi nghỉ học, trí óc non dại của tôi đã rất vui mừng vì mình không phải đi học nữa ! Nhưng tôi đã không biết để luyến tiếc rằng cái ngày thầy trò tôi nháo nhào bỏ chạy khỏi ngôi trường chính là ngày học vinh dự cuối cùng của tôi dưới mái trường đã đào tạo được biết bao thế hệ thành nhân, thành tài …

Cũng từ hôm ấy, bên cạnh “ông kẹ”, thì trong tâm trí của tôi có thêm một nỗi lo sợ khác là “Việt cộng” … “ông kẹ” do người lớn hù dọa từ tấm bé nên tôi sợ, nhưng “Việt cộng” thì chính người lớn còn phải sợ thì suy ra : Chắc chắn “Việt cộng” phải khủng khiếp, ghê rợn hơn “ông kẹ” rất nhiều …

Trong những ngày cuối tháng 03/1975, tôi nghe người lớn thì thầm nói chuyện với nhau về những lời đồn đại như : “Việt cộng” đã chiếm tỉnh này, người dân đang di tản ở tỉnh kia, rồi nào người Thượng sẽ về chặt đầu người Kinh đòi đất … hay và thông tin cho nhau : Hôm qua cửa hiệu ABC gì đó đã đóng cửa dọn cả nhà chạy về Sài Gòn,  hôm nay gia đình ông bà XYZ đã có giấy được xuất cảnh ra nước ngoài v.v…

Sự lo lắng, hoang mang của người lớn tác động lây đến những đứa trẻ con như tôi cảm thấy bất an …

Bố tôi ở Sài Gòn liên tục gọi điện thoại lên để bàn bạc, thúc giục mẹ tôi việc về Sài Gòn, nhưng hình như mẹ tôi vẫn cố nán để chờ đợi một quyết định chính thức của công sở về việc thuyên chuyển … Sự mẫn cán vì chức nghiệp của mẹ tôi đã khiến chúng tôi có lúc lâm vào hoàn cảnh nguy khốn chưa từng có trong cuộc đời chúng tôi …

Một buổi sáng, mẹ con chúng tôi đi Chợ Chi Lăng thì thấy một chiếc xe zeep vẫn chở viên sĩ quan đứng uy nghiêm trong bộ quân phục, găng tay trắng muốt, kiếm lệnh đeo bên hông, xe chạy từ từ qua khu vực chợ hướng về cổng Trường Võ Bị Sĩ Quan Dalat gần đấy, đây là những hình ảnh thường thấy, nhưng trong những ngày này, mọi người đều đưa mắt dõi theo như một liệu pháp tự trấn an mình …

Nhưng sự an tâm không giữ được mấy chốc, cho đến khi ông giám đốc nơi mẹ tôi làm việc đột nhiên không đến sở nữa, hay một hai gia đình công chức rời khỏi khu vực công sở nói dọn ra ngoài ở cho an toàn, thì theo đó, tôi lại mất nốt những người bạn hàng xóm trong số bạn ít ỏi của mình …

Không chỉ ở nơi mẹ tôi làm việc, mà trong những ngày này, Dalat vốn thường tĩnh lặng thì lại càng dần trở nên đìu hiu, lạnh lẽo và vắng vẻ khác thường … có một hôm mẹ cùng tôi đến bệnh viện tỉnh lấy thuốc, đường đi ngang qua khu Hòa Bình, nơi có thể xem là đông đúc người bậc nhất của Dalat thì người đi lại cũng rất thưa thớt, vội vã … đương nhiên, lúc này du khách không còn ở đây nữa … thay thế cho những hàng ăn, cửa hiệu là những cánh cửa đóng kín im ỉm … những cư dân Dalat đang còn ở lại đó sống trong một tâm trạng khó tả … Dalat như người đang hấp hối …

Dường như ai cũng dự cảm được đó chỉ mới là những con sóng nhẹ để cảnh báo về vô vàn con sóng thần hung tợn, đang ồ ạt đuổi đến từ phía sau … Nhưng không ai có thể ngờ được rằng con sóng cuối cùng sẽ làm thay đổi đến tận gốc rễ cuộc đời của hàng triệu người dân Miền Nam ...

Là một phần của Miền Nam, Dalat không dành riêng một ngoại lệ nào cho số phận của mình ...

(Còn tiếp ...)

Manh Dang


(1) Thơ thi sỹ Bùi Giáng - Chào Nguyên Xuân 
(2) Cách gọi phổ biến chỉ "phía bên kia" của người dân Miền Nam trước năm 1975

__________



Đọc thêm :